Nông sản 04/10: đậu nành bị neo bởi khách mua Trung Quốc, khô đậu yếu nhất, WASDE 09/10 quyết định tuần
Video tóm tắt bài viết, đăng trên kênh The Brain - Podcast.
Luận điểm tuần: thị trường đang định giá "thừa ngô, ép dầu, thiếu khách mua tự do"
Tuần 28/09–02/10/2026, cả năm mặt hàng nông sản chính trên sàn Chicago giảm, trừ dầu đậu nành. Tính trên hợp đồng cố định (không dùng chuỗi liên tục để tránh lệch do đảo hợp đồng), khô đậu ZMZ26 giảm 6,33% xuống 347,5 USD/tấn ngắn, ngô ZCZ26 giảm 5,77% xuống 497,75 cent/giạ, đậu nành ZSX26 giảm 3,09% xuống 1.278,25 cent, lúa mì ZWZ26 giảm 2,88% xuống 683 cent. Chỉ dầu đậu nành ZLZ26 tăng 1,15% lên 68,62 cent/pound.
Mỗi mặt hàng giảm vì một lý do riêng, và tách theo từng phiên thì thấy rõ. Đậu nành giảm vì Trung Quốc: ZSX26 mất 30,75 cent ngay phiên thứ Hai 28/09, ngày Mỹ và Trung Quốc công bố gói giảm thuế mà hạt đậu nành bị loại ra; Bắc Kinh giữ nguyên mức thuế trả đũa 10% với hạt đậu Mỹ. Ngô giảm vì kho: ZCZ26 mất 21,25 cent riêng phiên 30/09, ngày USDA công bố tồn kho ngô lớn hơn hẳn mọi tính toán. Khô đậu giảm theo cả hai: khô rơi cùng đậu ngày 28/09 và tiếp tục rơi cùng ngô sau đó; cả tuần, tỷ lệ giá khô/ngô gần như không đổi (0,702 xuống 0,698), tức khô đi đúng nhịp ngô, mặt hàng thức ăn chăn nuôi thay thế đang rẻ đi.
Điều đáng chú ý nhất của tuần là một tin tốt không được thưởng. Tồn kho đậu nành Mỹ ngày 01/09 chỉ 315 triệu giạ, thấp hơn 3% so với năm trước. Phiên công bố số này, ngô mất hơn 4% còn đậu chỉ giảm 4,75 cent: đậu không bị ngô kéo theo, nhưng cũng không được tin tốt đẩy lên. Giá đậu lúc này bị neo bởi câu hỏi ai sẽ mua đậu Mỹ, chứ không phải bởi kho đậu Mỹ còn bao nhiêu.
Kết luận ngắn cho tuần 05–09/10 và trung hạn đến quý 1/2027: chưa có lợi thế về hướng cho đậu nành và ngô trước báo cáo cung cầu USDA ngày 09/10; khô đậu là chân yếu nhất về cấu trúc; lúa mì là nơi câu chuyện nguồn cung thật (cảng Nga) đang bị giá phớt lờ, nhưng chưa có dấu hiệu giá quay đầu.
Tuần qua: con số nào thật sự làm giá di chuyển
Ngô: cú sốc tồn kho. Báo cáo tồn kho quý của USDA ngày 30/09/2026 ghi tồn kho ngô ngày 01/09 là 2,095 tỷ giạ, tăng 35% so với 1,551 tỷ giạ cùng kỳ năm 2025, và cao hơn khoảng 173 triệu giạ so với chính con số USDA ước tính trong báo cáo cung cầu tháng 9 (1,922 tỷ).
Đậu nành: kho thấp nhưng không ai thưởng. Tồn kho đậu ngày 01/09/2026 là 315 triệu giạ (năm trước 325). Phần lớn cú giảm của đậu trong tuần đã xảy ra từ ngày 28/09.
Lúa mì: kho Mỹ giảm, giá vẫn giảm. Tồn kho lúa mì Mỹ ngày 01/09/2026 là 1,85 tỷ giạ, giảm 14% so với năm trước. USDA tháng 9 để tồn kho cuối vụ 2026/27 ở 717 triệu giạ, vẫn rộng.
Quỹ đầu cơ đã bắt đầu rút trước báo cáo. Theo CFTC (số liệu chốt ngày 29/09, tức là trước báo cáo tồn kho), quỹ quản lý tiền mua ròng đậu nành 246.558 hợp đồng, giảm 18.601 trong tuần. Ở ngô, quỹ mua ròng khoảng 381.220 hợp đồng, giảm 22.877. Ở lúa mì Chicago, quỹ bán ròng 22.109 hợp đồng và đã tăng bán ròng thêm 37.013 hợp đồng trong 4 tuần.
Trung Quốc: mua đều, nhưng là mua theo chỉ tiêu. Tuần kết thúc 24/09, USDA ghi nhận bán ròng đậu nành vụ 2026/27 khoảng 1,03 triệu tấn, trong đó Trung Quốc khoảng 589.000 tấn; Trung Quốc chiếm 70% lượng đậu Mỹ được kiểm hoá xuất khẩu trong tuần đó. Ngày 28–29/09, hai bên công bố và Bắc Kinh chi tiết hoá gói giảm thuế với hơn 1.600 mặt hàng nông sản Mỹ, kể cả dầu, khô và hạt giống đậu nành, nhưng loại trừ hạt đậu nành thường, vẫn chịu thêm 10%. Thuế 10% khiến việc mua đậu Mỹ tiếp tục do doanh nghiệp nhà nước nắm, nhưng thuế không phải lý do duy nhất khiến nhà máy ép tư nhân Trung Quốc đứng ngoài. Theo Reuters (30/09), kho đậu tại 111 nhà máy ép Trung Quốc lên 7,96 triệu tấn ngày 25/09, cao nhất ít nhất 15 năm; biên ép với đậu Mỹ giao tháng 11 đang âm, và với đậu Brazil cũng âm; người mua Trung Quốc chỉ đặt khoảng 50 chuyến hàng đậu trong ba tuần đầu tháng 9, ít nhất 4 năm. Cầu đậu Mỹ hiện là cầu chính trị: có sàn (cam kết 25 triệu tấn/năm giai đoạn 2026–2028) nhưng cũng có trần, và không phản ứng với giá như cầu thương mại. Phép thử hàng tuần: nếu báo cáo bán hàng thứ Năm vẫn cho Trung Quốc phần lớn lượng bán mới dù kho nhà máy ép rất cao, đó là đơn hàng nhà nước; nếu tỷ trọng tụt mạnh, sàn chính trị đang lỏng ra.
Cấu trúc trung hạn: đậu nành giờ được định giá bởi dầu
Mỗi giạ đậu đem ép cho khoảng 11 pound dầu và 44 pound khô. Tính theo giá đóng cửa 02/10, phần dầu đáng khoảng 7,55 USD, phần khô khoảng 7,65 USD, tổng 15,19 USD, trừ đi giá hạt 12,78 USD thì biên ép trên sàn còn khoảng 2,41 USD/giạ. Hai con số đáng chú ý:
- Tỷ trọng giá trị của dầu trong biên ép là 49,7%. Trung bình giai đoạn 2015–2020 chỉ khoảng 33%. Mức hiện tại cao hơn 93% số phiên trong 10 năm qua; đỉnh là 55,5% vào ngày 10/06/2026.
- Biên ép 2,41 USD/giạ cao hơn 90% số phiên trong 10 năm.
Hai con số này nói cùng một điều: nhà máy ép Mỹ có lý do chạy hết công suất, và họ chạy vì dầu. Nhu cầu dầu có trụ chính sách: quy định nhiên liệu tái tạo của EPA cho 2026–2027 (công bố cuối tháng 3/2026) đặt mức bắt buộc dầu diesel sinh học ở 9,07 tỷ tín chỉ cho 2026 và 9,20 tỷ cho 2027, tương đương tối thiểu khoảng 5,33 và 5,75 tỷ gallon. Hệ quả dây chuyền: ép nhiều để lấy dầu thì khô ra nhiều, khô phải tìm người mua bằng cách giảm giá. Đây là bối cảnh nền; tuần qua khô giảm chủ yếu vì đi cùng ngô. Biên ép gần như đứng yên (2,43 USD ngày 25/09, 2,41 USD ngày 02/10), dầu tăng còn khô giảm, nên điều chỉnh nằm ở cơ cấu chứ không nằm ở tổng.
Điều này có ba ý nghĩa trung hạn:
- Nếu chính sách giữ nguyên, khô đậu là chân yếu. Chừng nào biên ép còn cao và dầu còn được chính sách đỡ, nguồn cung khô sẽ tiếp tục dồi dào, trong khi ngô rẻ cạnh tranh trực tiếp trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi. Khô chỉ hồi bền khi có cú sốc nguồn cung từ Nam Mỹ (Argentina là nước xuất khẩu khô lớn nhất).
- Nếu chính sách đổi, dầu mới là chân rơi mạnh nhất. Giá dầu đã phản ánh mức bắt buộc cao kỷ lục. Bất kỳ thay đổi nào về miễn trừ cho nhà máy lọc dầu nhỏ, tín dụng thuế, hay thương mại dầu ăn đã qua sử dụng đều đánh vào dầu trước, kéo biên ép xuống, và khi đó khô lại được đỡ vì nhà máy giảm công suất. Vì vậy, độ tin cậy cho dầu đậu không vượt 5 trên 10 dù câu chuyện cấu trúc nghe rất thuyết phục.
- Giá hạt đậu ngày càng phụ thuộc vào giá dầu thực vật và năng lượng, ít phụ thuộc hơn vào nhu cầu thức ăn chăn nuôi. Khi đọc giá đậu, hãy nhìn cả dầu thô, dầu cọ và chính sách nhiên liệu sinh học.
Biến số lớn của quý 1/2027: El Niño và mùa mưa Brazil
Rủi ro tăng giá lớn nhất của đậu nành trong khung trung hạn không nằm ở Mỹ (vụ Mỹ đã định hình, mới thu hoạch 17%, tình trạng tốt–rất tốt 58%, thấp hơn mức 62% năm trước), mà nằm ở Brazil.
Cơ quan khí hậu NOAA của Mỹ (bản thảo luận ngày 10/09/2026) cho xác suất trên 90% xuất hiện một đợt El Niño rất mạnh vào mùa thu–đông bán cầu Bắc. Với Brazil, El Niño thường mang mưa nhiều cho miền Nam nhưng có thể gây khô và nóng cho vùng Trung Tây, trong đó có Mato Grosso, bang trồng đậu lớn nhất. Viện kinh tế nông nghiệp Mato Grosso đã dự phóng năng suất bang này giảm 5,43% xuống 62,44 bao/ha. CONAB vẫn đặt sản lượng đậu cả nước vụ 2026/27 ở 181,64 triệu tấn. Đến 02/10, Mato Grosso mới gieo 10,23% diện tích, chậm hơn năm trước 4,79 điểm phần trăm và hơi dưới trung bình 5 năm (11,23%), vì nông dân chờ mưa đủ ẩm.
Đây là rủi ro đuôi tăng có thật nhưng chưa xảy ra: gieo trồng vẫn sớm, và miền Nam Brazil cùng Argentina thường được lợi khi miền Trung bị hại. Thị trường chưa trả tiền cho nó. Đường cong kỳ hạn vẫn ở trạng thái hợp đồng xa đắt hơn hợp đồng gần: ZSF27 cao hơn ZSX26 16,25 cent, ZSH27 cao hơn 26,5 cent. Nếu thị trường lo thiếu hàng đầu năm 2027, hợp đồng tháng 1 và 3 sẽ tăng nhanh hơn tháng 11 và chênh lệch thu hẹp. Chênh lệch thu hẹp là bằng chứng thị trường đã bắt đầu trả tiền cho rủi ro Brazil, tức là một phần câu chuyện đã vào giá, không phải lời mời mua sớm.
Lúa mì: nguồn cung thật đang bị chặn, nhưng giá chưa tin
Về phía cung toàn cầu, cảng phía nam của Nga ở vùng Azov–Biển Đen gần như đứng từ giữa tháng 8/2026 do tàu và kho cảng bị tấn công (Novorossiysk trúng máy bay không người lái ngày 12/08 và 09/09); hàng phải vòng lên cảng Baltic. Theo một hãng đánh giá rủi ro hàng hải của Anh, có hơn 210 vụ tấn công tàu thương mại trên Biển Đen từ tháng 7 đến cuối tháng 9/2026. Các hãng tư vấn Nga ước xuất khẩu lúa mì của Nga ba tháng đầu niên vụ (tháng 7–9/2026) chỉ khoảng 5,4 triệu tấn, thấp hơn 53% so với năm trước và 58% so với trung bình 5 năm. Phía Ukraine cũng đã hạ mục tiêu xuất khẩu ngũ cốc niên vụ 2026/27 xuống 38–40 triệu tấn từ 43 triệu tấn sau các đòn đánh vào cảng Odesa.
Vậy vì sao lúa mì Chicago giảm từ 725,25 cent (11/09) xuống 683 cent? Vì lúa mì Nga không mất đi, chỉ bị chậm lại. Đến giữa tháng 9, Nga đã thu hoạch trên 90 triệu tấn lúa mì, giá xuất khẩu lúa mì 12,5% đạm giao tháng 11 ở cảng Baltic khoảng 268 USD/tấn (giữa tháng 9), tức hàng vẫn rẻ và vẫn tìm được đường ra. Thị trường đang đọc đây là hàng tồn đọng sẽ chảy ra sau, không phải thiếu hụt. Quỹ cũng đang tăng bán khống.
Phía Mỹ có một rủi ro khác đáng theo dõi hơn: hạn hán vùng Đồng bằng phía Nam. Đến tuần 08/09/2026, 100% diện tích Oklahoma ở trạng thái khô hoặc hạn và khoảng 89% ở mức hạn nặng trở lên. Tiến độ gieo lúa mì vụ đông toàn quốc đến 27/09 là 27%, chậm hơn trung bình 5 năm (34%). Thị trường đã phản ánh một phần: lúa mì Kansas (KEZ26, 735,25 cent) đang cao hơn lúa mì Chicago 52 cent. Nhưng điều này ảnh hưởng tới vụ thu hoạch năm 2027, không phải tới cân đối hiện tại.
Kết luận cho lúa mì: câu chuyện nguồn cung có thật, nhưng phải đến khi giá ngừng giảm bất chấp quỹ bán thêm (tức đóng cửa tuần trên 705–710 cent, vùng đỉnh ngày 25/09) mới có cơ sở để nói thị trường bắt đầu tin.
Tuần 05–09/10: một ngày quyết định
Mọi thứ trong tuần hội tụ vào báo cáo cung cầu (WASDE) của USDA lúc 23:00 giờ Việt Nam thứ Sáu 09/10. Nghị quyết ngân sách tạm thời đã cấp kinh phí cho chính phủ Mỹ đến 11/12/2026, nên rủi ro báo cáo bị hoãn vì đóng cửa chính phủ là thấp.
Hai câu hỏi báo cáo phải trả lời:
- Ngô: USDA xử lý 173 triệu giạ tồn kho đầu vụ "thừa" thế nào? Nếu năng suất (178,5 giạ/mẫu trong báo cáo tháng 9) không bị hạ, tồn kho cuối vụ 2026/27 sẽ bị đẩy lên tương ứng. Câu chuyện chỉ đổi nếu năng suất bị cắt đủ sâu để kéo tồn kho cuối vụ về khoảng 1,65 tỷ giạ hoặc thấp hơn.
- Đậu nành: tồn kho cuối vụ 2026/27 đang ở 310 triệu giạ (báo cáo tháng 9). Mốc làm câu chuyện đổi là dưới 295 triệu (chặt lên rõ) hoặc trên 325 triệu (lỏng ra). Lưu ý: phản ứng giá còn tuỳ thị trường đã kỳ vọng sẵn đến đâu. Ngày 11/09 USDA cắt tồn kho đậu từ 320 xuống 310 triệu giạ, đúng chiều "tốt", nhưng giá vẫn giảm vì thị trường đã kỳ vọng mức cắt sâu hơn.
Kịch bản ZSX26 đến đóng cửa 09/10
Đánh giá chủ quan, không phải dự báo điểm. Các nhánh chia theo đúng một biến quan sát được là tồn kho cuối vụ đậu nành 2026/27 trong báo cáo 09/10. Vùng giá được dựng bằng điểm giữa của từng nhánh cộng trừ một độ lệch chuẩn 5 phiên (độ biến động ngày 1,13% × √5 ≈ 32 cent). "Tích cực/tiêu cực" là tác động lên giá ZSX26, đóng cửa 02/10 ở 1.278,25.
20% · TÍCH CỰC — Tồn kho cuối vụ dưới 295 triệu giạ. Thị trường đọc là cân đối chặt lên và đợt rút vốn của quỹ chững lại. Vùng giá tham chiếu 1.273–1.337. Dấu hiệu: đóng cửa 09/10 trên 1.300.
55% · TRUNG LẬP — Tồn kho từ 295 đến 325 triệu giạ (tính cả hai mốc). Đậu đi theo ngô và khô; nhiều khả năng dao động hẹp. Vùng giá tham chiếu 1.243–1.307. Dấu hiệu: giá không thoát khỏi vùng 1.255–1.300 trong tuần.
25% · TIÊU CỰC — Tồn kho trên 325 triệu giạ, do năng suất Mỹ được nâng hoặc USDA hạ dự báo xuất khẩu khi cầu tư nhân Trung Quốc yếu. Đây là nhánh mà vị thế mua ròng lớn của quỹ có thể khuếch đại cú giảm. Vùng giá tham chiếu 1.208–1.272. Dấu hiệu: đóng cửa dưới 1.250.
Đọc gộp: trung bình theo xác suất của các điểm giữa ≈ 1.272 cent, thấp hơn giá hiện tại khoảng 6 cent, chưa bằng một phần năm độ lệch chuẩn 5 phiên. Không có lợi thế về hướng, nên hành động hợp lý là CHỜ báo cáo, không phải đoán trước nó.
Kịch bản ZCZ26 đến đóng cửa 09/10
Chia theo tồn kho cuối vụ ngô 2026/27 trong báo cáo 09/10; độ lệch chuẩn 5 phiên khoảng 15 cent; đóng cửa 02/10 ở 497,75.
20% · TÍCH CỰC — Tồn kho cuối vụ từ 1,65 tỷ giạ trở xuống (năng suất bị cắt đủ sâu để bù phần tồn kho đầu vụ). Vùng giá tham chiếu 497–527. Dấu hiệu: đóng cửa trên 510.
50% · TRUNG LẬP — Tồn kho trong khoảng 1,65–1,80 tỷ giạ, phần lớn "thừa" đầu vụ được chuyển sang cuối vụ. Vùng giá tham chiếu 480–510.
30% · TIÊU CỰC — Trên 1,80 tỷ giạ (năng suất còn được nâng). Vùng giá tham chiếu 463–493. Dấu hiệu: đóng cửa dưới 485.
Đọc gộp: ≈ 493 cent, thấp hơn giá hiện tại khoảng 4,5 cent, chỉ bằng khoảng một phần ba độ lệch chuẩn 5 phiên. Nghiêng nhẹ về giảm nhưng chưa đủ để gọi là lợi thế.
Vị thế quỹ: đông, nhưng không phải tín hiệu bán
Quỹ đang giữ vị thế mua ròng đậu nành ở mức cao hơn 97,8% các tuần cùng mùa trong gần 11 năm. Đó không phải tín hiệu quỹ sắp tháo chạy. Đo trên dữ liệu CFTC 2010–2026 (783 tuần): khi vị thế quỹ ở nhóm 5% cao nhất của 3 năm, tỷ lệ giá cao hơn sau 40 phiên là 57%, so với nền 51%; giá giảm quá 8% chỉ xảy ra ở 6% trường hợp, so với nền 12%; còn tăng quá 8% xảy ra ở 32%, so với nền 15%. Vị thế đông cho biết thị trường mong manh theo cả hai chiều, không cho biết chiều nào; nó chỉ khuếch đại phản ứng với báo cáo 09/10.
Mùa vụ cũng không cho nhiều thông tin: từ đầu tháng 10, ZS cao hơn sau 25 phiên ở 11 trên 16 năm (2010–2025), so với nền 53% (4.154 cửa sổ), chưa có ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ liên sản phẩm và cuộc đua diện tích 2027
- Đậu/ngô vụ cũ (ZSX26/ZCZ26): 2,57, trong vùng bình thường 2,2–2,8.
- Đậu/ngô vụ mới (ZSX27/ZCZ27): 1.253,25/516,5 = 2,43. Đây là tỷ lệ nông dân Mỹ nhìn khi chọn cây trồng năm 2027; mức 2,43 chưa khuyến khích rõ việc chuyển sang đậu. Nếu ngô giảm tiếp mà đậu đứng giá, tỷ lệ nhích lên sẽ kéo diện tích về đậu, gây áp lực cho đậu năm 2027.
- Đường cong ngô: ZCH27 cao hơn ZCZ26 13,75 cent; thị trường trả tiền để trữ hàng, dấu hiệu dư cung. Lúa mì/ngô 1,37, bình thường.
Hướng đi tiếp theo và mốc đổi quan điểm
Đậu nành ZS — CHỜ, độ tin cậy 3 trên 10. Chúng tôi chỉ tin hơn vào khả năng tăng (lên 5 trên 10) khi hai điều cùng xảy ra: tồn kho cuối vụ dưới 295 triệu giạ, và chênh lệch ZSF27 trên ZSX26 thu hẹp dưới 10 cent. Kể cả khi đó, đây là thay đổi mức tin của nhận định, không phải điểm mua. Hạ quan điểm sang giảm khi: tồn kho trên 325 triệu VÀ đóng cửa dưới 1.250. Nhận định "chưa có lợi thế" sẽ sai nếu tồn kho không chặt lên mà ZSX26 vẫn đóng cửa 09/10 trên 1.300: khi đó giá đang phản ánh điều nằm ngoài cân đối Mỹ, trước hết là cầu Trung Quốc.
Khô đậu ZM — CHỜ, nghiêng giảm trung hạn, độ tin cậy 3 trên 10. Lý do giảm là cấu trúc (biên ép cao, ép vì dầu). Chưa bán đuổi sau tuần giảm 6,33%. Quan điểm sai nếu Argentina hoặc Brazil có sự cố nguồn cung, hoặc biên ép tụt dưới 1,5 USD/giạ khiến nhà máy giảm công suất.
Dầu đậu ZL — CHỜ, nghiêng tăng trung hạn, độ tin cậy 3 trên 10 (trần 5 vì phụ thuộc chính sách). Quan điểm sai nếu EPA nới miễn trừ cho nhà máy lọc nhỏ hoặc giá dầu thô gãy mạnh.
Ngô ZC — CHỜ, độ tin cậy 3 trên 10. Báo cáo 09/10 là bài kiểm tra. Tồn kho cuối vụ dưới 1,65 tỷ giạ là tín hiệu đầu tiên rằng cú giảm tuần qua đã đi quá; trên 1,80 tỷ thì vùng 480 trở thành mục tiêu.
Lúa mì ZW — CHỜ, độ tin cậy 3 trên 10. Cần thấy giá ngừng giảm dù quỹ bán thêm, đóng cửa tuần trên 705–710, mới coi câu chuyện cảng Nga là đang được định giá. Ngược lại, nếu cảng phía nam của Nga hoạt động lại và hàng tồn đọng ồ ạt ra thị trường, vùng 650–660 là hoàn toàn có thể.
Lịch cần nhớ (giờ Việt Nam)
- Thứ Hai 05/10, 22:00: kiểm hoá xuất khẩu tuần — xem tỷ trọng Trung Quốc có giữ quanh 70% không.
- Thứ Ba 06/10, 03:00: tiến độ mùa vụ — thu hoạch đậu/ngô và gieo lúa mì vụ đông.
- Thứ Năm 08/10, 19:30: bán hàng xuất khẩu tuần; khoảng 20:00 cùng ngày, NOAA cập nhật El Niño.
- Thứ Sáu 09/10, 23:00: báo cáo cung cầu WASDE — sự kiện quyết định của tuần.
- Rạng sáng thứ Bảy 10/10, 02:30: báo cáo vị thế COT (số liệu chốt 06/10) — lần đầu thấy quỹ phản ứng với cú sốc ngô.
- 09–10/11: USTR hết hạn tạm hoãn phí cảng với tàu liên quan Trung Quốc, nếu không được gia hạn; 10/01/2027: hết hạn đình chiến thương mại Mỹ–Trung, trùng đầu vụ thu hoạch Brazil.
Giới hạn của phân tích này
Biên ép tính trên giá sàn, không phải lợi nhuận thực của nhà máy; phân vị lịch sử dùng chuỗi giá liên tục. Số liệu lúa mì Nga và hạn Oklahoma là của giữa tháng 9. Xác suất kịch bản là đánh giá chủ quan.
Giá đóng cửa 02/10/2026 trên hợp đồng cố định. Phân tích tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư cá nhân hóa.
Thông tin tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.
Bài viết liên quan
Nông sản tuần 12–16/10/2026: đậu nành chờ Trung Quốc, El Niño là biến số trung hạn
WASDE tháng 10 đánh mạnh ngô, lúa mì giảm dù vụ Mỹ nhỏ nhất từ 1970, đậu nành đứng vững nhờ khô đậu và quỹ. Ba nhánh cho tuần tới theo lượng Trung Quốc mua, ba nhánh trung hạn theo vụ Brazil và El Niño.
WASDE Tháng 10: Tồn Kho Vượt Kỳ Vọng, Nông Sản Toàn Nhóm Chờ CPI
WASDE tháng 10 nâng tồn kho đậu nành 315 triệu giạ và lúa mì 740 triệu giạ, đều vượt khảo sát — toàn nhóm nông sản thủ thế chờ CPI 14/10 và tiến độ mùa vụ 13/10.
Nông sản 07/10: Đậu nành COT 97,8 phân vị chờ WASDE 9/10 xác nhận
ZS −1/2 bearish vì COT 97,8 phân vị; ZW +2/6 nghiêng tăng nhẹ vì Biển Đen đóng — cả hai chờ WASDE tháng 10.
Bình luận (0)